Chủ Nhật, 31 tháng 12, 2000

Cách phân biệt các dạng bệnh trĩ

Nguyễn Trí(Hà Nội)

Bệnh trĩ là bệnh thường gặp nhất trong các bệnh hậu môn trực tràng, đối tượng mắc bệnh chủ yếu là nam giới. Nếu không biết phòng ngừa, chữa trị sớm và đúng cách, có thể gây biến chứng... Trĩ được chia ra làm 3 loại: trĩ ngoại, trĩ nội và trĩ hỗn hợp.

Trĩ nội: là bệnh mà các búi trĩ xuất phát từ những đám rối tĩnh mạch bị phồng lên ở bên trong hậu môn phía trên đường lược.

Trĩ ngoại: là những búi sưng do các tĩnh mạch căng lên hoặc phần da ở các nếp gấp viền hậu môn bị viêm, sưng to, sự tăng sinh của các mô liên kết hoặc máu tụ thành.

Trĩ hỗn hợp: chỉ hình thành khi cùng lúc xảy ra 2 loại trĩ và khi trĩ nội đã sa mà không co lên được và tạo điều kiện cho các búi trĩ liên kết với nhau. Do đó, trĩ hỗn hợp rất nguy hiểm và cần chữa trị nhanh chóng, nếu không sẽ gây ra những biến chứng nguy hiểm cho bệnh nhân.

Bạn nên đi khám để có chẩn đoán rõ ràng và được tư vấn cách điều trị.

BS. Song Hà

Những tai nạn thường gặp ở trẻ dịp hè

Trên thực tế, hè nào bệnh viện cũng phải tiếp nhận những ca cấp cứu do: bỏng, tai nạn điện giật, tai nạn giao thông, leo trèo ngã gãy tay chân… Vì vậy, việc phòng tránh và xử trí đúng tai nạn thường gặp là vô cùng quan trọng.

Cần quan tâm và giám sát chặt chẽ trẻ để tránh tai nạn.

Cần quan tâm và giám sát chặt chẽ trẻ để tránh tai nạn.

Tai nạn bỏng

Nguyên nhân bỏng rất đa dạng nhưng phần lớn là do bỏng với nước sôi, lửa bếp, bỏng do bàn là ủi, do điện giật hay thò tay vào ổ cắm điện…Khi bé bị bỏng, các bước cơ bản xử trí ở nhà nên được tiến hành để tránh làm nặng thêm vết thương.

Trước hết, người nhà cần bình tĩnh, không la hét làm bé hoảng sợ mà cần phải rửa hoặc ngâm vết bỏng của bé vào nước mát (16 - 20 độ C) hoặc dội nước hay hứng vùng bị bỏng dưới vòi nước mát, sạch càng sớm càng tốt trong khoảng thời gian 20 phút. Nếu bỏng do hóa chất thì rửa dưới vòi nước sạch chảy nhẹ để làm trôi bớt và làm loãng lượng hóa chất trên da, sau đó đưa đi khám tại các cơ sở y tế. Tuyệt đối không thoa kem đánh răng, nước mắm, rượu trắng hay các loại thuốc thảo dược không rõ nguồn gốc vào vết bỏng vì sẽ gây kích ứng vùng da đang bị tổn thương và làm nặng hơn.

Chấn thương đầu

Thường gặp nhất là té ngã ở giường, võng, ngã xe đạp, tai nạn giao thông, vật nặng va đập trúng đầu… Nếu nhẹ có thể bị tụ máu dưới da đầu, thường gọi là u đầu hay sưng da đầu. Nặng hơn là các tổn thương ở xương sọ như nứt xương, lõm sọ hay vết thương sọ não.

Sau khi ngã, ở đầu bé có thể nổi lên u sưng rất to, hãy tiến hành chườm lạnh (lấy khăn bọc đá hoặc nhúng nước mát) vào chỗ sưng đau khoảng 15-20 phút. Nếu cần, sau khi nghỉ 5 phút có thể chườm thêm 20 phút nữa. Khối u sẽ tự tan sau vài ngày đến vài tuần. Nếu bé tỉnh táo, đi lại, nói năng, chơi đùa bình thường như trước khi bị ngã thì chỉ cần chườm lạnh và theo dõi. Giữ bé thức trong vòng ít nhất là 1 giờ đầu. Cần đưa bé đi khám bác sĩ nếu thấy xuất hiện các biểu hiện nghi ngờ chấn thương sọ não sau đây: bé ngủ nhiều, rối loạn trí giác, nôn, quấy khóc nhiều bất thường, không thể dỗ, chảy máu cam, máu mũi, sưng lớn trên vùng đầu…

Té ngã gãy xương

Khác với người lớn, xương ở trẻ em mềm, dễ gãy. Trẻ thường hiếu động nên dễ té ngã do đùa giỡn, leo trèo hoặc bất cẩn khi đi đứng, khi đã bị chấn thương vẫn không kêu đau và điều đó khiến cho cha mẹ không quá bận tâm, chỉ xoa bóp dầu hay đưa trẻ đến thầy lang để xoa nắn bó bột… có thể dẫn đến tai biến.

Các dấu hiệu gợi ý gãy xương: Đau vùng chỗ gãy rất nhiều, thâm tím, sưng nề chỗ gãy, mất cử động bình thường vùng xương bị gãy. Do đó, khi có các dấu hiệu trên, người nhà nên tiến hành sơ cứu ngay vùng chấn thương cho trẻ bằng các bất động với nẹp hoặc bất cứ vật gì dài, phẳng có thể nâng đỡ vùng xương bị gãy (cành cây, giấy cứng của thùng các-tông...). Nguyên tắc chung khi đặt nẹp bất động: Thông thường, có thể dùng các miếng gỗ, cành cây dài thẳng bọc vải; sau đó đặt dọc theo chiều dài của chi bị gãy, cuốn băng lại bên ngoài trước khi đưa lên cáng vận chuyển nạn nhân; lưu ý dùng 3 nẹp đặt quanh trục xương và dài hơn các khớp phía trên và phía dưới xương bị gãy, sau đó đưa trẻ đến cơ sở y tế để được kiểm tra và điều trị đúng.

Nuốt phải dị vật

Nuốt dị vật thường gặp với trẻ em. Các vật dễ nuốt như đồng xu, đồ chơi nhỏ, bút chì, bút và ngòi bút, pin, kim băng, kẹp tóc và kim khâu. Nếu cha mẹ thấy con mình nuốt phải dị vật, cần bình tĩnh, tuyệt đối không dùng tay móc họng trẻ vì hành động này sẽ khiến dị vật đi sâu hơn vào đường thở.

Đối với dị vật không phải chất lỏng, tùy theo độ tuổi của bệnh nhân mà tiến hành làm nghiệm pháp Hemlich ở các tư thế khác nhau.

Với trẻ dưới 1 tuổi, cấp cứu đầu tiên khi bị ngạt là nên thổi ngược lại vì nếu làm nghiệm pháp Hemlich có thể gây ra chấn thương bụng. Với trẻ lớn hơn 1 tuổi, thực hiện nghiệm pháp Hemlich ở tư thế nằm như sau: đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu thấp, nghiêng sang 1 bên, 2 bàn tay người cứu nạn chồng lên nhau, đè ngay vùng thượng vị rồi ấn mạnh theo hướng đầu bệnh nhân, làm nhịp nhàng (ấn 4-5 cái 1 lần) để ép phổi với hy vọng không khí trong phổi được tống ra đồng thời đẩy cả dị vật ra ngoài thanh môn.

Với trẻ lớn hoặc người lớn thực hiện nghiệm pháp Hemlich ở 3 tư thế đứng, ngồi hoặc nằm như sau: Hemlich tư thế nằm: đặt bệnh nhân nằm ngửa, đầu thấp, nghiêng sang 1 bên, 2 bàn tay người cứu nạn chồng lên nhau đè ngay vùng thượng vị, rồi ấn mạnh theo hướng đầu bệnh nhân, làm nhịp nhàng (ấn 4-5 cái 1 lần) để ép phổi với hy vọng không khí trong phổi được tống ra, đồng thời đẩy cả dị vật ra ngoài thanh môn.

Hemlich ngồi hoặc đứng: Người cứu nạn đứng sau lưng nạn nhân, đưa tay ra trước qua hông đặt trước vùng thượng vị, 2 tay chồng lên nhau, cho lưng nạn nhân dựa vào ngực người cứu nạn, sau đó ép mạnh vùng thượng vị nạn nhân từng đợt (ép 4-5 cái 1 lần).

Nếu nghiệm pháp Hemlich 3 lần không thành công, lập tức hô hấp nhân tạo ngay với hy vọng đẩy dị vật xuống để đường thở phần nào được lưu thông. Đồng thời ngay lúc đó cần gọi khẩn cấp hỗ trợ y tế để đưa trẻ tới cơ sở y tế gần nhất.

Phải luôn để mắt đến trẻĐể tránh những tai nạn thương tâm xảy ra cho trẻ, nhất là trẻ mới tập bò, tập đi, người lớn cần quan tâm chăm sóc và giám sát chặt chẽ trẻ.Tạo nơi vui chơi an toàn cho trẻ bằng cách: thường xuyên kiểm soát trẻ khi trẻ đứng gần ao, hồ, sông, suối; không để trẻ mới tập đi tự leo cầu thang, leo cửa sổ, đứng trên ghế…; không cho trẻ chơi gần những nơi nguy hiểm như: bếp than, bếp gas, bếp điện; các vật dụng dễ gây nguy hiểm cho trẻ như dao, kéo, thớt cần treo trên cao, tránh tầm tay trẻ; để những vật dụng gây bỏng như nước sôi, phích nước, bao diêm bật lửa… gọn gàng ở trên cao, xa tầm với của trẻ. Khi đun nấu, cần để các cán xoong chảo quay vào trong, tránh việc vô tình không để ý trẻ va phải gây bỏng; nấu ăn xong, những món sôi nóng cần để xa và cao, tránh tầm tay của trẻ. Khi cho trẻ chơi những đồ chơi bằng nhựa, cần chú ý đồ chơi vỡ, tạo những góc cạnh nhọn sắc gây đứt tay hay chọc vào mắt gây chấn thương. Những đồ chơi có pin tiểu nhỏ cần chú ý vì trẻ có thể lấy pin nuốt hay nhét vào lỗ mũi.

ThS.BS. Trần Anh

Cách phát hiện sớm trầm cảm sau sinh

Đây là một dạng rối loạn có các triệu chứng giống với trầm cảm thông thường. Tuy nhiên, nguyên nhân gây ra rối loạn này lại khác với nguyên nhân gây trầm cảm thông thường là do thiếu serotonin ở não vì biến động nội tiết ở bệnh nhân sau khi đẻ.

Các dấu hiệu nhận biết

Các triệu chứng của trầm cảm sau sinh cũng giống như các triệu chứng của bệnh trầm cảm nói chung. 9 triệu chứng điển hình bao gồm:

Khí sắc giảm: Khí sắc giảm (khí sắc trầm cảm) là nét mặt của bệnh nhân rất đơn điệu, luôn buồn bã, các nếp nhăn giảm nhiều, thậm chí mất hết nếp nhăn. Tình trạng khí sắc giảm rất bền vững do bệnh nhân buồn, bi quan, mất hy vọng. Trong một số trường hợp, giai đoạn đầu buồn có thể bị phủ nhận, nhưng có thể biểu hiện khi khám bệnh.

tram cam sau sinh

Mất hứng thú hoặc sở thích cho hầu hết các hoạt động: Mất hứng thú hoặc sở thích luôn biểu hiện rõ ràng. Các bệnh nhân cho rằng họ đã mất hết các sở thích vốn có (tôi không thích gì bây giờ cả). Bệnh nhân không còn quan tâm đến em bé mới sinh.

Giảm sút năng lượng: Năng lượng giảm sút, kiệt sức và mệt mỏi rất hay gặp. Một người có thể than phiền mệt mỏi mà không có một nguyên nhân cơ thể nào. Thậm chí chỉ với một công việc rất nhẹ nhàng họ cũng cần một sự tập trung lớn. Hiệu quả công việc có thể bị giảm sút.

Khi triệu chứng giảm sút năng lượng xuất hiện rõ ràng thì bệnh nhân hầu như không thể làm được việc gì (thậm chí cả vệ sinh cá nhân cũng là quá sức của họ).

Mất cảm giác ngon miệng, ăn ít hoặc sút cân: Sự ngon miệng thường bị giảm sút, nhiều bệnh nhân có cảm giác rằng họ bị ép phải ăn. Họ ăn rất ít, thậm chí trong các trường hợp nặng bệnh nhân nhịn ăn hoàn toàn. Vì vậy, bệnh nhân thường sút cân nhanh chóng (có thể sút vài kg trong một tháng, cá biệt có trường hợp sút đến 10kg).

Mất ngủ, nhưng cũng có thể bệnh nhân ngủ quá nhiều: Rối loạn giấc ngủ hay gặp nhất trong giai đoạn trầm cảm, điển hình là mất ngủ (chiếm 95% số trường hợp). Các bệnh nhân thường có mất ngủ giữa giấc (tỉnh ngủ vào lúc ban đêm và khó ngủ tiếp) hoặc mất ngủ cuối giấc (tỉnh ngủ quá sớm và không thể ngủ tiếp). Mất ngủ đầu giấc (khó bắt đầu giấc ngủ) cũng có thể xuất hiện. Mất ngủ là triệu chứng gây khó chịu rất nhiều cho bệnh nhân.

Rối loạn hoạt động tâm thần vận động: Thay đổi hoạt động tâm thần vận động bao gồm kích động (nghĩa là bệnh nhân luôn đi đi lại lại, không thể ngồi yên), vận động chậm chạp (ví dụ nói chậm, vận động cơ thể chậm), tăng khoảng nghỉ trước khi trả lời, giọng nói nhỏ, số lượng ít, nội dung nghèo nàn, thậm chí câm. Họ có thể nằm lì trên giường cả ngày mà không hoạt động gì.

tram cam sau sinhBiến động nội tiết ảnh hưởng tới các cơ quan trong cơ thể đồng thời là nguyên nhân khiến phụ nữ bị trầm cảm sau sinh.

Cảm giác vô dụng hoặc tội lỗi: Bệnh nhân cho rằng mình là kẻ vô dụng, không làm nên trò trống gì. Họ luôn nghĩ mình đã làm hỏng mọi việc, trở thành gánh nặng cho gia đình, cơ quan và xã hội. Chính cảm giác vô dụng và tội lỗi của bệnh nhân khiến bệnh nhân muốn nhanh chóng kết thúc cuộc sống của mình và em bé bằng cách tự sát và từ chối điều trị.

Khó suy nghĩ, tập trung hoặc ra quyết định: Bệnh nhân cũng rất khó khăn khi cần đưa ra quyết định, họ thường phải mất rất nhiều thời gian để cân nhắc những việc thông thường (ví dụ: một người nội trợ đã không thể quyết định mua rau cải hay rau muống). Khó tập trung chú ý của bệnh nhân còn thể hiện ở những việc đơn giản như không thể đọc xong một bài báo ngắn, không thể nghe hết một bài hát yêu thích, không thể xem hết một chương trình tivi mà bệnh nhân trước đây vẫn quan tâm.

Rối loạn trí nhớ ở bệnh nhân thường là giảm trí nhớ gần. Bệnh nhân có thể quên mình vừa làm gì (không nhớ mình đã ăn sáng cái gì, không thể nhớ mình đã bỏ chùm chìa khóa ở đâu...). Trong khi đó, trí nhớ xa (ngày sinh, quê quán, các sự việc đã xảy ra lâu trong quá khứ...) thì vẫn còn được duy trì tương đối tốt trong một thời gian dài.

Ý nghĩ muốn chết hoặc có hành vi tự sát: Hầu hết bệnh nhân trầm cảm sau sinh đều có ý nghĩ về cái chết, nặng hơn thì họ có thể có ý định tự sát hoặc hành vi tự sát. Lúc đầu họ nghĩ rằng bệnh nặng thế này (mất ngủ, chán ăn, sút cân, mệt mỏi...) thì chết mất. Dần dần, bệnh nhân cho rằng bệnh nhân chết đi cho đỡ đau khổ. Các ý nghĩ này biến thành niềm tin rằng những người trong gia đình, cơ quan... có thể sẽ khá hơn nếu bệnh nhân chết. Từ ý nghĩ tự sát, họ sẽ có hành vi giết em bé rồi tự sát.

Lời khuyên của thầy thuốcBệnh nhân trầm cảm sau sinh nếu có ý định và hành vi tự sát hoặc ý định và hành vi giết em bé thì dứt khoát phải điều trị nội trú tại khoa tâm thần để ngăn chặn các tình huống xấu xảy ra. Các bệnh nhân có 7 triệu chứng trở lên cũng phải điều trị nội trú vì nguy cơ tự sát rất cao. Các bệnh nhân có dưới 6 triệu chứng, không có ý định tự sát, không có ý nghĩ về cái chết thì có thể điều trị tại gia đình.

PGS.TS. Bùi Quang Huy

(Chủ nhiệm khoa Tâm thần - Bệnh viện 103)

Mối nguy hại viêm đường hô hấp tái phát lúc giao mùa

Thời tiết thay đổi và nỗi lo viêm đường hô hấp tái phát

Với các bậc phụ huynh có con nhỏ, thời tiết thay đổi là thời điểm đáng lo ngại nhất khi lúc này, cơ thể trẻ dễ dàng bị tấn công bởi vô số loại vi khuẩn, virus gây bệnh viêm đường hô hấp.

Đổi thời tiết và nỗi lo viêm đường hô hấp tái phát ở trẻ nhỏ (Ảnh minh họa)

Nắng mưa thất thường, nhiệt độ thay đổi đột ngột là điều kiện thuận lợi khiến cho những virus gây bệnh cúm, viêm họng, cảm lạnh...sinh sôi. Trong khi đó, trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ dưới 3 tuổi, sức đề kháng kém, là đối tượng dễ dàng bị tấn công và nhiễm bệnh. Vì thế, tỷ lệ trẻ mắc các bệnh vào lúc giao mùa luôn cao hơn mọi thời điểm trong năm.

Khi mắc những căn bệnh này, dấu hiệu thường gặp đó là: sốt, ho, sổ mũi, hắt hơi, quấy khóc, bỏ ăn, đau họng, nhức đầu, nôn trớ, đi ngoài…

Ở nước ta, trẻ em nhiễm khuẩn đường hô hấp tăng cao trong 5 năm gần đây do thời tiết thay đổi, môi trường ô nhiễm… Bệnh viêm đường hô hấp có tỉ lệ tái nhiễm bệnh cao nhất và cũng là bệnh gây tử vong đáng lo ngại.

Mối nguy hại của viêm đường hô hấp tái phát

Mối nguy cơ tiềm ẩn của viêm đường hô hấp tái phát thường xuyên là khiến suy giảm sức đề kháng, biếng ăn kéo dài dẫn đến suy dinh dưỡng. Điều này dễ dàng ảnh hưởng tới giai đoạn phát triển của trẻ, khiến trẻ chậm lớn, chậm phát triển các kỹ năng và trí tuệ.

Biếng ăn, suy dinh dưỡng là một trong những nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe của trẻ khi trẻ thường xuyên mắc bệnh viêm đường hô hấp tái phát (Ảnh minh họa)

Bên cạnh đó, nhiều bậc cha mẹ thường chủ quan khi thấy trẻ ho hắng, sốt, nhức đầu, sổ mũi…bởi cho rằng đây là những triệu chứng đơn giản. Thế nhưng, trên thực tế, những căn bệnh đơn giản ở trẻ hoàn toàn có thể chuyển biến khó lường. Từ viêm họng với những dấu hiệu ho hắng đơn giản, nếu không được xư trí đúng cách, để lâu dễ dẫn tới những căn bệnh nguy hiểm, đáng sợ như viêm phổi, viêm phế quản…Thậm chí nếu không chữa dứt điểm, trẻ có thể mắc những căn bệnh mãn tính như hen suyễn… Trên thực tế, khoa Nhi tại các bệnh viện đã ghi nhận nhiều trường hợp trẻ mắc chứng viêm phổi nguy hiểm tới tính mạng vì cha mẹ chủ quan với những dấu hiệu ho, sốt. Ho, sốt, nôn trớ nhiều còn có thể khiến trẻ kiệt sức, mất nước nghiêm trọng…dẫn tới ảnh hưởng tới tính mạng của trẻ.

Sử dụng kháng sinh khi mắc bệnh viêm đường hô hấp có thể khiến hệ miễn dịch suy giảm.

Viêm đường hô hấp còn khiến trẻ có nguy cơ phải sử dụng kháng sinh dài ngày. Sử dụng kháng sinh là con dao 2 lưỡi, có thể tiêu diệt vi khuẩn có hại nhưng cũng làm mất cân bằng hệ vi khuẩn có lợi ở trẻ. Dùng kháng sinh lâu dài khiến trẻ bị suy yếu hệ miễn dịch, điều đó càng làm cho trẻ dễ dàng mắc bệnh, dẫn tới vòng luẩn quẩn cứ ốm lại phải dùng kháng sinh. Kháng sinh cũng ảnh hưởng tới các cơ quan trọng yếu trong cơ thể trẻ như gan, thận…

Cần làm gì khi trẻ thường xuyên bị ho, sốt, cảm cúm

Có thể chủ động phòng ngừa viêm đường hô hấp bằng cách thay đổi thói quen sinh hoạt, môi trường sinh sống giúp trẻ giảm thiểu tối đa nguy cơ mắ bệnh này. Những trẻ có tiền sử mắc phải bệnh viêm đường hô hấp thì càng cần chủ động hơn trong việc giúp phòng ngừa bệnh lý này hoàn toàn.

Chế độ ăn đầy đủ dinh dưỡng, cân bằng 4 nhóm chất là một trong những phương pháp tự nhiên giúp trẻ chống lại những yếu tố gây bệnh

Để phòng, chống bệnh khi nhiệt độ đột ngột giảm cần tăng cường sức đề kháng bằng việc bổ sung dinh dưỡng hợp lý bằng cách sử dụng các loại rau xanh, trái cây tươi đảm bảo đầy đủ vitamin A, C, E, canxi, khoáng chất, chất xơ có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch. Thường xuyên bổ sung lượng nước sinh bù tân dịch bị hao tổn do bài tiết. Tốt nhất là các loại nước có tính mát, nước hoa quả, đồ uống thể thao.

Luôn giữ vệ sinh cá nhân cho trẻ tốt, vệ sinh răng miệng đúng cách và rửa mũi bằng nước muối sinh lý phòng bệnh.

Khi trẻ đã có dấu hiệu của bệnh viêm đường hô hấp như ho, sốt, sổ mũi…cha mẹ cần kịp thời đưa trẻ đi khám để xác định nguyên nhân bị bệnh là do vi khuẩn hay virus và có phương án điều trị phù hợp.

Nếu không cần phải sử dụng kháng sinh, cha mẹ có thể tích cực chăm sóc trẻ tại nhà. Trẻ bị ho nhiều có thể ảnh hưởng tới giấc ngủ, gây nôn trớ khiến trẻ có nguy cơ bị mất nước, cha mẹ nên dùng những loại siro giảm ho thành phần thiên nhiên an toàn giúp loãng đờm, long đờm… Đây là biện pháp hữu hiệu giúp bé giảm những cơn ho và dễ chịu hơn.

Thuốc ho thảo dược Prospan sản xuất bởi Engelhard Arzneimittel, Đức, được nghiên cứu lâm sàng về hiệu quả và tin dùng trên 102 quốc gia. Prospan chứa cao khô lá thường xuân chiết xuất theo quy trình đặc biệt, được cấp bằng sáng chế bảo hộ độc quyền.

Sản phẩm chỉ định cho trường hợp viêm đường hô hấp cấp có kèm theo ho, điều trị triệu chứng trong các bệnh lý viêm phế quản mạn tính.

Chống chỉ định trường hợp bất dung nạp fructose, phụ nữ có thai và cho con bú nên tham khảo ý kiến bác sĩ khi sử dụng.

Đọc kỹ hướng dẫn sử dụng trước khi dùng.

Số đăng ký thuốc VN-17873 -14, XNQC số 0145 Bộ Y tế cấp ngày 16/8/2016.

Thông tin truy cập wesite hoặc facebook. Hotline: 094 240 8866

Ngăn chặn nạn bạo hành trẻ em

Bạo hành có nhiều hình thái khác nhau như bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần và bạo hành về tình dục. Để có một xã hội lành mạnh và tốt đẹp, vấn đề bạo hành này cần được cộng đồng chủ động ngăn chặn với nhiều biện pháp cần thiết.

Thực tế các cơ sở y tế là nơi trẻ vị thành niên và thanh niên thường đến tiếp xúc để được hỗ trợ, giúp đỡ do bị bạo hành hay hậu quả của việc bạo hành. Vì vậy phải sàng lọc một cách thận trọng, trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu bị bạo hành hay ảnh hưởng của việc bạo hành thì cần giải quyết các vấn đề về sức khỏe, tư vấn và hỗ trợ về tinh thần, khuyến khích trẻ vị thành niên bộc lộ và chia sẻ; đồng thời cung cấp cho trẻ vị thành niên và thanh niên các thông tin cần thiết về dịch vụ xã hội, kết nối và thông báo với cơ quan pháp luật có liên quan tiếp nhận vụ việc tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của bạo hành cũng như những nguyện vọng mong muốn giải quyết của trẻ vị thành niên và thanh niên.

Các hình thái của hành vi bạo hành

Hành vi bạo hành có thể có nhiều hình thái khác nhau như bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần, bạo hành về tình dục. Bạo hành về thể chất là hành hạ thân thể như đánh, tát, bạt tai, bắt nhịn đói, bắt nhốt... Bạo hành về tinh thần là hành hạ, uy hiếp tinh thần như chửi mắng, lăng mạ, làm mất thể diện trước mặt người khác, xao lãng bỏ mặc, bỏ rơi, không công nhận... Bạo hành về tình dục là quấy rối, lạm dụng, cưỡng ép thực hiện các hành vi tình dục làm tổn hại đến thể chất, tinh thần như hiếp dâm, quấy rối, sờ mó, sử dụng lời nói tục tĩu, bắt buộc chụp hình khỏa thân, cưỡng ép bán dâm...; thực tế trong nhiều trường hợp, đối tượng gây bạo hành tình dục là người quen, thậm chí là người thân của nạn nhân; trẻ em nữ vị thành niên và nữ thanh niên bị bạo hành, lạm dụng tình dục nhiều hơn nhưng trẻ em nam vị thành niên và nam thanh niên cũng có thể là nạn nhân; mặc dù trẻ em nam và nam giới cũng bị bạo hành nhưng số trẻ em nữ và phụ nữ bị bạo hành vẫn chiếm tỉ lệ cao hơn; hầu hết các trường hợp bạo hành này có nguyên nhân bắt nguồn từ những định kiến và hiện tượng bất bình đẳng về giới tính và thường được gọi chung là bạo hành trên cơ sở giới tính hay bạo hành giới tính.

Ngăn chặn nạn bạo hành trẻ emBạo hành trẻ em cần được chủ động ngăn chặn, đặc biệt là bạo hành về tình dục. ẢNH MINH HỌA

Trẻ vị thành niên và thanh niên, đặc biệt là trẻ nữ vị thành niên và nữ thanh niên có thể là nạn nhân của việc buôn bán người; đây là một hình thức bạo hành trên cơ sở giới tính. Trẻ em nữ vị thành niên và thanh niên là con của các gia đình di cư từ nông thôn ra thành phố, nghèo, không biết chữ, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người có rối loạn tâm lý hay tâm thần hoặc không sống cùng gia đình như trẻ vị thành niên và thanh niên đường phố, mồ côi, sống trong cơ sở nội trú, trại giáo dưỡng, trại giam... thường có nguy cơ bị bạo hành cao hơn, nhất là hành vi quấy rối tình dục và lạm dụng tình dục. Trẻ vị thành niên và thanh niên đồng tính, chuyển giới có nguy cơ bị bạo hành cao hơn trẻ vị thành niên và thanh niên dị tính; đồng thời cũng có nguy cơ tự tử do kỳ thị và bạo hành cao hơn nhiều lần so với trẻ vị thành niên và thanh niên dị tính. Ngoài ra trẻ vị thành niên và thanh niên, đặc biệt là trẻ nữ vị thành niên và nữ thanh niên lạm dụng các chất kích thích như rượu, ma túy có nguy cơ bị bạo lực và lạm dụng tình dục cao hơn so với trẻ vị thành niên và thanh niên không sử dụng các chất kích thích này.

Vấn đề bạo hành có thể xảy ra tại gia đình, trường học, nơi làm việc, nơi công cộng, trên xe buýt... Hiện nay việc bạo hành trong trường học đang có xu hướng gia tăng đã gây nhiều hệ lụy đến sức khỏe và xã hội. Thực tế ghi nhận trẻ vị thành niên và thanh niên sống trong môi trường bạo hành như cha bạo hành mẹ, anh chị bạo hành em... thì cũng bị ảnh hưởng gián tiếp do sự bạo hành gây nên sự lo lắng, căng thẳng, trầm cảm... Các rối loạn tâm lý do việc bạo hành hay sống trong môi trường bạo hành có thể dẫn đến các rối loạn về hành vi như có hành động phản kháng, nổi loạn, tự tử. Nếu trẻ nam vị thành niên và nam thanh niên có cha là người gây nên hành vi bạo hành thì cũng rất có nguy cơ trở thành người gây bạo hành so với những trẻ nam vị thành niên và nam thanh niên khác khi lập gia đình. Nếu trẻ nữ vị thành niên và nữ thanh niên có mẹ là nạn nhân của việc bạo hành thì cũng rất có nguy cơ trở thành nạn nhân của bạo hành khi kết hôn cao hơn những trẻ nữ vị thành niên và nữ thanh niên khác.

Các yếu tố nguy cơ và hậu quả của bạo hành

Theo các nhà khoa học, sự thay đổi về tâm sinh lý ở tuổi vị thành niên và thanh niên nếu không được cha mẹ hay người lớn hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời thì có thể dẫn đến hành vi có liên quan đến việc bị bạo hành hoặc có hành động bạo hành người khác do nhiều yếu tố khác nhau như: bị ảnh hưởng của các loại thông tin mang tính bạo lực và không lành mạnh, do hậu quả của việc phải sống trong môi trường có bạo hành gia đình, lạm dụng các chất gây nghiện, phản ứng tiêu cực trước những vấn đề xảy ra trong cuộc sống, để chứng tỏ mình với bạn bè hay để đua đòi, bán dâm hay buôn bán tình dục để kiếm tiền...

Hành vi bạo hành có thể dẫn đến các hậu quả gồm: bị thương tích, tàn tật, thậm chí tử vong; bị tổn thương về tâm lý như rối loạn hành vi, trầm cảm, lo âu, mất ngủ, tự tử...; bị rối loạn chức năng tình dục như lãnh cảm...; thường bỏ học, bỏ việc, xa lánh mọi người; có tâm lý trả thù, bất cần đời... có thể làm cho trẻ vị thành niên và thanh niên đã bị xâm hại trở thành kẻ đi bạo hành, đi xâm hại người khác; đồng thời cũng có thể mang hậu quả về sức khỏe sinh sản như có thai ngoài ý muốn, mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS...

Các dấu hiệu giúp phát hiện bạo lực tình dục

Để giúp phát hiện các trường hợp trẻ vị thành niên và thanh niên bị bạo lực, xâm hại tình dục; cần căn cứ vào những dấu hiệu về hành vi và tinh thần, dấu hiệu về thực thể. Các dấu hiệu về hành vi và tinh thần được ghi nhận như: có rối loạn tinh thần, mang cảm giác tự ti; lo lắng, sợ sệt, xa lánh, trốn chạy...; bị trầm cảm, mặc cảm tội lỗi, hổ thẹn, có biểu hiện dọa tự tử hoặc tự tử; bị mất ngủ, không ăn hoặc ăn không ngon; có lạm dụng chất gây nghiện; có rối loạn về tình dục, sợ hãi, ghê tởm hành vi tình dục, không có khả năng phân biệt giữa các hành vi tình cảm và tình dục; có hoạt động tình dục sớm; có thể có hành vi xâm hại, lạm dụng người khác... Các dấu hiệu thực thể được ghi nhận như: các vết thâm tím, chảy máu, sưng đau, đặc biệt có liên quan đến bộ phận sinh dục; việc đi lại, đứng ngồi khó khăn, quần áo rách và bẩn, có dính máu; có ra máu, có dịch tiết âm đạo hoặc dương vật; đau bụng, đau vùng hạ vị; bị nhiễm khuẩn đường tiết niệu tái diễn, có thể có hiện tượng đại tiện và tiểu tiện không tự chủ; có các dấu hiệu nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục như tiết dịch âm đạo, tiết dịch niệu đạo, vết loét, vết sùi...; có thể đang có thai...

Việc thăm khám phải được tiến hành một cách kín đáo, thận trọng và kỹ càng để phát hiện đầy đủ các dấu hiệu có liên quan đến hành vi trẻ vị thành niên và thanh niên bị bạo lực tình dục đã nêu ở trên để giúp xác định tổn thương một cách cụ thể nhằm có biện pháp hỗ trợ, điều trị phù hợp.

Biện pháp phòng tránh bạo hành

Đối với những trường hợp trẻ vị thành niên và thanh niên bị bạo hành, cần nhận biết rõ đã có hành vi bạo hành xảy ra với các dấu hiệu được xác định. Nên cung cấp các thông tin về sự xâm hại, bạo hành ở những nơi có mặt của trẻ vị thành niên và thanh niên thường là tại phòng đợi, phòng tư vấn bằng tranh ảnh, tờ rơi, áp phích... hướng dẫn. Nên bày tỏ thái độ thông cảm, tôn trọng và động viên khi tư vấn. Phải hỏi cụ thể tiền sử và thăm khám kỹ để đánh giá nguy cơ bị mắc các bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, nguy cơ mang thai và các tổn thương khác. Thực hiện việc điều trị và chuyển tuyến khi cần bao gồm cả việc sử dụng thuốc tránh thai khẩn cấp nếu trẻ vị thành niên và thanh niên nữ bị cưỡng hiếp trong vòng thời gian khoảng 120 giờ; cũng cần chuyển trẻ vị thành niên và thanh niên đến các cơ sở chuyên khoa để được tư vấn, xét nghiệm và hỗ trợ điều trị những bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục, HIV. Tư vấn những nội dung có liên quan đến hành vi bạo hành và hỗ trợ tâm lý phù hợp. Cần bảo đảm sự bí mật và riêng tư đối với những thông tin của nạn nhân. Hỗ trợ tìm người giúp đỡ, tìm nơi an toàn, tìm đến các dịch vụ xã hội trợ giúp. Đồng thời ghi chép thật đầy đủ, lưu hồ hơ theo đúng quy định của pháp lý.

Để phòng ngừa và giảm thiểu những hậu quả của việc bạo hành, cần tổ chức thực hiện và vận động mọi người tham gia các hoạt động giáo dục phòng ngừa bạo hành tại cộng đồng, trường học; cung cấp các thông tin về bạo hành cho đối tượng tham gia đặc biệt chú trọng đến trẻ vị thành niên và thanh niên ngay cả khi họ đến cơ sở y tế không phải vì vấn đề bạo hành; phát hiện và ngăn ngừa những dấu hiệu, những biểu hiện có thể dẫn đến hành vi bạo hành. Đồng thời cần hỗ trợ, tư vấn cho trẻ vị thành niên và thanh niên đã bị xâm hại, bị bạo hành để giúp đối tượng này vượt qua tình trạng stress, lấy lại sự cân bằng tâm lý, tránh được cảm giác muốn trả thù hay buông xuôi. Ngoài ra phải bảo đảm quyền của trẻ vị thành niên và thanh niên, nhấn mạnh quyền được bảo vệ để chủ động tránh khỏi các hình thái bạo hành.

Điều cần quan tâm

Trong xã hội phát triển hiện nay, tình trạng trẻ vị thành niên và thanh niên bị bạo hành, đặc biệt là nữ đã xảy ra khá phổ biến với xu hướng ngày càng lan rộng từ thành thị đến nông thôn, miền núi. Vì vậy đây là một vấn đề cấp thiết cần phải được cảnh báo để chủ động ngăn ngừa. Ngoài hình thái bạo hành về thể chất, bạo hành về tinh thần thì bạo hành về tình dục xảy ra trên thực tế rất đáng báo động từ những trường hợp trẻ vị thành niên bị xâm hại thời gian vừa qua ở nhiều địa phương. Ngành y tế và các cơ quan chức năng có liên quan cần quan tâm đến những yếu tố nguy cơ, hậu quả của bạo hành, dấu hiệu phát hiện bạo lực tình dục để chủ động thực hiện biện pháp phòng tránh. Trẻ vị thành niên và thanh niên, đặc biệt là nữ cần được sống trong một môi trường xã hội an toàn, có sự bảo vệ cần thiết của nhiều cơ quan, đoàn thể liên quan.

BS. NGUYỄN HOÀNG ANH

Những thực phẩm cần kiêng khi con bạn mắc bệnh tự kỷ

Theo Viện Y tế Quốc gia Hoa Kỳ, có 01 trong 1.000 trẻ em bị ảnh hưởng bởi chứng tự kỷ, mặc dù con số chính xác và phân loại chứng tự kỷ vẫn còn tiếp tục thống kê và nghiên cứu. Chế độ ăn uống là một trong những cách chữa trị được ủng hộ để giúp quản lý tốt bệnh tự kỷ, bao gồm thực phẩm không chứa gluten, không chứa casein, được gọi là chế độ ăn GFCF (gluten-free, casein-free diet). Mặc dù không có nghiên cứu đánh giá đầy đủ về hiệu quả của chế độ ăn kiêng GFCF, nhưng nhiều bậc cha mẹ của trẻ tự kỷ cho rằng chế độ ăn GFCF thành công trong việc giúp giảm các triệu chứng của chứng tự kỷ.

Tránh thực phẩm chứa Gluten

Gluten là một protein có trong lúa mạch đen, lúa mạch và lúa mì. Nhóm vận động bệnh tự kỷ TACA (Talk About Curing Autism), Hoa Kỳ khuyên nên đọc nhãn thực phẩm cẩn thận để tránh ăn thực phẩm có chứa gluten.

Thực phẩm chứa gluten

Do thực phẩm chứa gluten có chứa các vitamin và chất xơ có giá trị, nên chế độ ăn uống không chứa gluten có thể được yêu cầu giám sát chặt chẽ bởi một chuyên gia dinh dưỡng và bác sĩ để đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ cho người bệnh tự kỷ, tránh tình trạng thiếu hụt vitamin và các chất dinh dưỡng thiết yếu.

Tránh thực phẩm chứa Casein

Giống như gluten, casein là một protein được tìm thấy trong nhiều sản phẩm thực phẩm. Tất cả các sản phẩm sữa chứa casein bao gồm phô mai, sữa chua, sữa bò, sữa dê. Theo tổ chức Tự kỷ lên tiếng (Autism Speaks), casein, cũng như gluten, được cho là bị chuyển hóa khác biệt ở những người tự kỷ, gây ra các triệu chứng khiếm khuyết giao tiếp và xã hội trong chứng tự kỷ.

thực phẩm chứa casein

Thực phẩm chứa casein

Loại bỏ casein khỏi chế độ ăn nên được thực hiện cẩn thận, vì nó có thể gây ra sự thiếu hụt các chất dinh dưỡng có giá trị như canxi và vitamin C. Cần bổ sung đủ canxi và vitamin C theo khuyến cáo để tăng sức mạnh xương khớp và sức đề kháng của cơ thể.

Tránh các sản phẩm làm từ đậu nành

Nước tương, edamame, bánh mì kẹp thịt đông lạnh và dầu đậu nành chỉ là một số trong các mặt hàng có chứa đậu nành. Ngoài ra, có nhiều loại thực phẩm như kẹo cao su hoặc các thức uống giải khát có chứa nguồn đậu nành bên trong. TACA khuyến cáo cần mạnh tay loại bỏ đậu nành khỏi chế độ ăn cho những trẻ tự kỷ, vì đậu nành được sản xuất ở Mỹ thường bị biến đổi gen và có thể là một chất gây dị ứng thực phẩm.

sản phẩm từ đậu nành

Khuyến cáo nên đọc cẩn thận nhãn thực phẩm để hạn chế đậu nành trong chế độ ăn uống của trẻ tự kỷ. Mặc dù không có nghiên cứu đầy đủ về việc hạn chế đậu nành sẽ giúp giảm các triệu chứng tự kỷ, nhưng TACA nói rằng nhiều cha mẹ có con tự kỷ thực hiện chế độ ăn uống hạn chế đậu nành và chế độ ăn kiêng GFCF và đã cho thấy có những cải thiện ở trẻ tự kỷ.

TS.BS. Lê Thanh Hải

(tham khảo Live Strong)

Khắc phục chứng biếng ăn cho trẻ

Giai đoạn biếng ăn thường gặp nhất

Biếng ăn hay gặp ở trẻ từ 1-5 tuổi và khoảng 40% trẻ trong độ tuổi này có dấu hiệu biếng ăn trước 3 tuổi. Nguy cơ biếng ăn diễn ra cao nhất và có thể kéo dài hoặc trầm trọng hơn ở 3 giai đoạn: 4-6 tháng (trẻ bắt đầu ăn dặm), 12-24 tháng (trẻ chuyển từ chế độ ăn loãng sang ăn đặc) và 24-26 tháng (trẻ chuyển từ chế độ được đút sang thời kỳ tự ăn bằng muỗng).

Tô màu bát bột.

Tô màu bát bột.

Nguyên nhân và cách xử trí

Biếng ăn là một triệu chứng liên quan đến việc không thèm ăn ở trẻ và do nhiều nguyên nhân, có thể do sinh lý hoặc bệnh lý. Tuy nhiên, biếng ăn ở trẻ cũng thường tiềm ẩn nguyên nhân tâm lý cần được bố mẹ lưu ý.

Biếng ăn có các nguyên nhân chính:

Có nguồn gốc tâm lý: Đây là nguyên nhân thường gặp nhất, thường xảy ra khi thay đổi chế độ ăn ở trẻ nhỏ và hay gặp ở bé gái tuổi vị thành niên.

Ở trẻ nhỏ: Đa số các trường hợp biếng ăn ở trẻ em là thuộc loại này. Trẻ mất đi sự thèm ăn là do trẻ có cảm giác bị ép buộc , bị bỏ rơi hay bị đánh lừa. Do đó, để xử trí loại biếng ăn này, bố mẹ cần hết sức bình tĩnh, kiên nhẫn tìm hiểu lý do trẻ không chịu ăn, cần tránh những hành vi ép buộc trẻ, cố gắng thay đổi hành vi thái độ, dành nhiều thời gian chơi với trẻ, tạo không khí vui vẻ thoải mái khi trẻ ăn, cho trẻ tự do chọn thức ăn.

Nên cho trẻ ăn thử nhiều loại thức ăn theo cấu trúc thức ăn:

5-6 tháng: Đồ ăn nghiền hay giã nhuyễn (cháo nhuyễn).

7-8 tháng: Đồ ăn mềm có thể ép nát bằng lưỡi (cháo).

12-18 tháng: Đồ ăn cứng hơn có thể căn bằng rang (cơm nát).

Trên 18 tháng: Ăn cơm hạt như người lớn.

Có đôi lúc trẻ chỉ chấp nhận 2-3 loại thức ăn. Bố mẹ cần thử lại loại thức ăn trẻ chưa chấp nhận nhiều lần ở nhiều điều kiện khác nhau (không gian, màu sắc, kiểu dáng bát, thìa…).

Nên nhớ, đừng bao giờ lén pha thuốc vào thức ăn của trẻ.

Ở trẻ thiếu niên: Cách điều trị hiện nay chủ yếu là tâm lý liệu pháp, các kỹ thuật thay đổi thái độ. Bên cạnh đó, cần phục hồi dinh dưỡng để trẻ không bị suy dinh dưỡng. Trong trường hợp này việc kết hợp các thuốc chống trầm cảm rất có ích để điều trị biếng ăn do tâm lý.

Biếng ăn do bệnh lý: Xảy ra trong hầu hết mọi bệnh nhiễm trùng, nhiễm giun đũa cũng là một nguyên nhân biếng ăn phổ biến ở trẻ em nước ta. Bên cạnh đó, biếng ăn còn do trẻ mắc một số bệnh răng miệng hay trong các bệnh mạn tính nặng như suy tim, hen vừa và nặng.

Để xử trí các trường hợp này cần chẩn đoán và điều trị sớm các bệnh nhiễm trùng (đặc biệt là các bệnh do vi khuẩn); bổ sung các vi chất dinh dưỡng mà trẻ thiếu (các vitamin nhóm B, các acid amin, đặc biệt là lysine và kẽm…); tẩy giun định kỳ 6 tháng/lần; giữ gìn vệ sinh răng miệng tốt; điều trị sớm các bệnh lý ở răng miệng bằng các biện pháp thích hợp, cho giảm đau trong trường hợp có đau nhiều (viêm miệng, viêm họng, mọc răng); bổ sung các vi khuẩn lactobacillus có ích cho đường ruột.

Biếng ăn sinh lý: Trẻ thường biếng ăn khi trẻ biết lật, biết ngồi, biết đi. Xử trí bằng cách cho trẻ ăn từng bữa nhỏ, làm các món ăn lạ và hấp dẫn. Giai đoạn này sẽ qua một cách tự nhiên.

Biếng ăn do sai lầm trong chế độ ăn và cách chế biến thức ăn: Chế dộ ăn đơn điệu không phù hợp lứa tuổi của trẻ hoặc nghèo nàn về dinh dưỡng (thiếu đạm, các vitamin như B1) dần dần sẽ làm trẻ chán ăn. Các bậc cha mẹ cần tránh những sai lầm sau:

Chỉ cho trẻ ăn nước rau, nước thịt không ăn phần xác, lâu ngày gây thiếu dưỡng chất làm cho trẻ chán ăn.

Pha bột vào sữa, pha sữa quá đặc, pha sữa bằng nước cháo, nước hầm xương làm trẻ khó tiêu hóa.

Pha bột quá đặc khi trẻ mới tập ăn dặm.

Chất là lượng thực phẩm trong bát cháo hoặc bột không đủ.

Thức ăn đơn điệu làm cho trẻ chán ăn.

Bữa ăn quá nghèo nàn (chỉ có bột và thịt hoặc cá) làm trẻ bị thiếu một số acid amin tối cần thiết và các vitamin. Sự thiếu hụt này có thể dẫn đến tình trạng chán ăn.

Biếng ăn bẩm sinh: Hiếm gặp chiếm khoảng 5% trẻ không bao giờ đòi bú hay đòi ăn.

Biếng ăn có nhiều nguyên nhân, tùy từng nguyên nhân mà có cần thiết bổ sung vitamin nhóm B, probiotic (thường được gọi là men visinh), lysine, kẽm… hay không. Nên tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa trong mỗi trường hợp cụ thể.

Nên làm gì tránh việc trẻ biếng ăn?Để tránh việc trẻ biếng ăn, các bậc cha mẹ nên lưu ý:Không ép con ăn khi con không thích ăn, có thể rời thời gian ăn lại và thay vào đó là cho trẻ chơi đi dạo hoặc cho bé ngủ một giấc ngủ ngắn; chế biến từng loại thức ăn riêng giúp trẻ cảm nhận hương vị và độ thô của thức ăn; dùng nước rau, củ quả luộc trong chế biến thức ăn; thử nhiều món ăn với nhiều màu sắc hình dạng khác nhau; luôn cổ vũ con khi ăn làm trẻ luôn hứng thú và vui vẻ; luôn cố gắng hoàn thành bữa ăn trong 20-30 phút; không cho bé ăn rong; cho trẻ tự cầm thìa xúc ăn...

BS. Nguyễn Hữu Châu Đức

Giúp con đối phó vấn nạn học quá tải

Học quá tải là một vấn đề nghiêm trọng đối với các nhà sư phạm, các bác sĩ, và trước hết là các bậc phụ huynh. Bởi sự quá tải về trí lực sẽ ...